11 Phân tích bức tranh thiên nhiên trong bài Chiều Tối mới nhất

Bài làm 1

Bác Hồ của chúng ta không chỉ là một nhà cách mạng vĩ đại mà còn là một nhà thơ lớn của dân tộc. Thiên nhiên trong thơ bác hiện lên thật đẹp, thật lãng mạn nên thơ. Bức tranh thiên nhiên trong bài Chiều tối và Giải đi sớm là những bức tranh như thế, nó thể hiện tâm hồn, cốt cách cao đẹp của nhà thơ

Hai bài thơ viết về hai thời điểm khác nhau của một ngày chiều tối và sáng sớm song cả hai đều đẹp và tinh tế thông qua ngòi bút sắc sảo của nhà thơ. Đặc biệt, ở cả hai bài thơ thiên nhiên đều đi từ tối tăm, lạnh lẽo đến ánh sáng và ấm áp.

Ở Chiều tối, nhà thơ đã có một sự đồng cảm đặc biệt với thiên nhiên:

“Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ

Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không.”

Khi chuẩn bị hết một ngày, con người muốn trở về nhà để sum họp gia đình. Ở đây, chim cũng bay về rừng tìm điểm tựa, về với gia đình và “tìm chốn ngủ”. Nhưng đó không phải là cánh chim bình thường mà là cánh chim “mỏi”. Nhìn cánh chim bay đã biết chim mệt mỏi sau một ngày kiếm ăn vất vả. Phép nhân hóa đã thể hiện tấm lòng nhà thơ đối với thiên nhiên. Chưa hết, “chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không”. Câu thơ nguyên văn chữ Hán là “Cô vân mạn mạn độ thiên không”. “Cô vân” là chòm mây kẻ loi, cô độc, “độ thiên không” là bay ngang qua bầu trời. Câu thơ miêu tả một chòm mây cô đơn, lẻ loi một mình thực hiện cuộc hành trình dài dằng dặc bay ngang qua khoảng trời rộng lớn. Khung cảnh vắng vẻ, mệt mỏi gợi buổi chiều tà đang lắng dần những thời khắc cuối ngày. Bóng tối đang mơn man mặt đất… Bầu trời rộng lớn chỉ có cánh chim và áng mây lẻ loi. Còn mặt đất, nơi vẫn đông đúc vui vẻ sự sống thì:

“Cô em xóm núi xay ngô tối

Xay hết lò than đã ửng hồng”.

Thực ra trong nguyên bản chữ Hán là:

“Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc

Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng”

Bài thơ lấy tiêu đề là cảnh chiều tối, nhưng toàn bài không có một chữ “mộ” nào. Ngược lại, cảnh chiều tối nhưng lạ để ánh sáng ngân vang. Bài thơ khép lại với hình ảnh “lò than rực hồng” – “lô dĩ hồng”. Trong tiếng Hán, “hồng” là ánh sáng, hồng còn là ấm áp. Sự ấm áp của ngọn lửa giữa buổi tối miền núi lạnh lẽo; cũng là sự ấm áp của tình cảm gia đình đoàn tụ quây quần. Và biết đâu, còn ấm bởi tình người – tình cảm của Bác đối với những kiếp cần lao, với người dân miền núi bên cạnh nhịp quay nặng nề của cối xay “ma túc bao – bao túc ma hoàn”.Bài thơ nói đến sự mệt mỏi; cô đơn, lang thang vô định của chim, của mây đến ánh sáng hồng tươi ấm áp của ngọn lửa, của tình người.

Bài Giải đi sớm lại miêu tả lại khung cảnh bắt đầu của một ngày. Phần một là cảnh thiên nhiên khi “đêm chửa tan”. “Đêm chửa tan” – “dạ vị lan” tức là trời đang đêm, còn tối “dạ”. Bóng tối nơi miền núi hoang sơ gắn với cái lạnh lẽo, hoang vu và cả nỗi sợ hãi. Nhưng núi non, vực thẳm hiểm trở, chỉ xảy chân một chút là… Không chỉ thế, còn là miền núi lúc nửa thêm thu. Mùa thu đất Bắc thì lạnh lẽo vô cùng. Ở đây, Bác chỉ nhắc đến những cơn gió thu “trận trận hàn” đã thấy tê buốt xương da như đóng băng vậy.

Sang đến phần 2 thì cảnh thiên nhiên hiện ra khác hẳn với phần trước. Màu sắc, không gian đối lập hoàn toàn với phần trước. Đất trời “màu trắng chuyển sang hồng”. Màu hồng của ánh dương rực rỡ, của sự ấm áp, của miền núi hy vọng. Bóng tối bị quiets sạch, không gian được thanh lọc đến vô cùng: “Bóng tối đêm tàn, sớm sạch không”. Nguyên tác Bác dùng từ “tảo nhất không” – đã hết sạch để nói đến cái trong trẻo tuyệt đối của sớm mai. Và hơi ấm ngày mới lan tỏa bao trùm “Hơi ấm bao la toàn vũ trụ” để “Người đi thi hứng bỗng thêm nồng”.

Từ sự lãnh lẽo, tối tăm của đêm thu đến buổi sớm mai ấm áp trong lành đầy màu sắc, thiên nhiên vận động tươi sáng nhịp nhàng còn tác động tích cực đến con người và cũng thể hiện tâm hồn một con người yêu thiên nhiên, lạc quan tin tưởng vào ngày mai đầy ánh sáng.

Ngay ở Chiều tối ta đã bắt gặp một tình yêu thương bao la Bác dành cho thiên nhiên và sự sống con người. Có vậy Bác mới đồng cảm với sự “mỏi” của cánh chim; cái cô đơn, lang thang của chòm mây “mạn mạn độ thiên không”. Đặc biệt, Bác chia sẻ với nỗi vất vả của người dân ngoại quốc. Điều đó thể hiện qua câu thơ diễn tả nhịp quay nặng nề của cối xay ngô “ma bao túc – bao túc ma hoàn”. Ta cần lưu ý rằng, khi ấy Bác đang phải chịu cảnh tù đày, Bác đau khổ hơn cánh chim, áng mây và người sơn nữ kia nhưng người vẫn mở lòng để cảm thông chia sẻ. Đặc biệt, qua cái ấm áp của ánh lửa gia đình, ta hiểu rằng Bác đang chung vui, chung ấm với bữa cơm gia đình người sơn nữ.

Ở giải đi sớm không chỉ tấm lòng mà cả bản lĩnh của người tù cách mạng thể hiện rõ. Đêm thu lạnh lẽo hiểm nguy, người vẫn mở lòng ưu ái với thiên nhiên, nhìn thiên nhiên bằng đôi mắt hữu tình tinh tế: “Chòm sao nâng nguyệt vượt lên ngàn” – “Quần tinh ủng uyền nguyệt thướng thu san”. “Quần” là quây quần gợi cái đông vui, ríu rít. “Ủng” là bao lấy, ôm lấy. Hình ảnh những vì sao đông đúc vui vẻ ôm ấp trăng cùng bay lên “thướng” thật tình tứ thi vị. Cũng trong đêm hàn thu ấy, người chiến sĩ cách mạng đã thể hiện bản lĩnh bằng thái độ sẵn sàng đón nhận gian khổ, đón nhận nguy hiểm thậm chí thách thức chúng “nghênh diện thu phong trận hàn”. Nếu như điệp từ “trận trận” gợi đến lớp lớp đợt gió thu lạnh buốt táp vào thì từ “nghênh” đầy kiêu hãnh thể hiện thái độ sẵn sàng đối mặt với gian nguy. Con người ở đây mạnh mẽ, can trường và kỹ vĩ, tự nâng mình lên sánh với thiên nhiên. Không chỉ vậy, với sự khắc nghiệt của thiên nhiên Người “ngênh diện” nhưng với sự ấm áp, sáng tươi. Người hòa mình vào ban mai tươi sáng “Người đi thi hứng bỗng thêm nồng”. Vậy là bỗng chốc một tù nhân vụt hóa thành thi nhân. Khổ đau chỉ là cảm hứng để Bác tỏ lòng can trường. Anhs sáng ban mai để Bác ấm lòng lạc quan tin tưởng.

Không chỉ Chiều tối và Giải đi sớm, rất nhiều bài thơ trong Nhật kí trong tù tả cảnh thiên nhien và tất cả thiên nhiên đều có sự vận động tươi sáng từ trong bóng tối tới ánh sáng. Ra đời trong một hoàn cảnh đặc biệt, những vần thơ ấy thể hiện tình yêu thiên nhiên, yêu con người, yêu tự do bao la của Bác. Và hơn hết, nó thể hiện bản lĩnh, tinh thần người cách mạng luôn lạc quan, tin tưởng vào ngày mai tươi sáng.

Nguồn cảm hứng sáng tác của Bác xuất phái từ lòng yêu thiên nhiên, yêu đất nước trong thi sĩ. Tả cảnh thiên nhiên nhưng tác giả cũng đưa ra những lời dự đoán về kết quả của cuộc khắng chiến chống mĩ cứu nước của dân tộc sắp kết thúc thắng lợi. Bài thơ thê hiện tư thế ung dung tự tại, và lòng yêu nước của tác giả.

 

Bài làm 2

 

Bức tranh thiên nhiên lúc chiều buồn được Bác đột phá bằng hai hình ảnh cánh chim và chòm mây:

“Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ
Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không”

Có ý kiến cho rằng, cánh chim về tổ gợi sự xum họp, quần tụ ấm áp, tâm hồn Bác nhẹ tênh như du khách thưởng ngoạn. Đây là cách hiểu chưa thỏa đáng vì người phân tích mới chỉ dựa vào hai câu thơ dịch thiếu chính xác. Bản dịch đáng mất nghệ thuật đảo ngữ “quyện điểu” và chưa dịch sát “cô vân mạn mạn”.
Thực chất đây là buổi chiều buồn man mác được thể hiện bằng bút pháp cổ điển đặc sắc, bởi ngược dòng thời gian trở về với thượng nguồn văn học ta thường bắt gặp những dáng chim bay, những chòm mây lạ mang tín hiệu biểu trưng cho buổi chiều. Ca dao từng khắc khoải:

“Chim bay về núi tối rồi”

Trong thơ Nguyễn Du cũng có hình ảnh chim bay:

“Chim hôm thoi thóp về rừng”

Đặc biệt hai câu thơ của Bác rất gần với hai câu thơ của Lý Bạch:

“Chúng điểu cao phi tận
Cô vân độc khứ nhàn”

Dịch:

“Bầy chim nhất loạt bay cao
Lưng trời thơ thẩn đám mây một mình”

Cũng là “chúng điểu”, cũng là “cô vân” song chỉ giống nhau ở hình xác thi liệu. Đọc kĩ mới thấy thơ Bác và thơ Lý Bạch khác xa nhau bởi hai thế giới cảm xúc. Cánh chim trong thơ Lý Bạch “cao phi tận” tức là bay vào cõi hư vô, lạnh buốt mang cảm xúc thoát tục, lánh đời. Còn cánh chim trong thơ Bác có điểm đến rất rõ ràng: “về rừng” tức là trở về cõi trần gian với đời thường gần gũi. Còn “cô vân” của Lí Bạch (độc khứ nhân) nhàn tả ung dung thoát tục, còn “cô vân” của Bác thì lại trôi chầm chậm giữa bầu trời như mang nặng nỗi niềm suy tư. Hai cõi thơ ấy là hai cõi ấm – lạnh thật khác xa nhau.
Như vậy, hai câu thơ mở đầu của bài “Chiều tối” mở ra trước mắt người đọc một bức tranh thiên nhiên đẹp nhưng đượm buồn được chi phối bởi quy luật:

“Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”

Ở đây, Người buồn vì xa Tổ quốc, quê hương, lại gặp một buổi chiều tàn nơi xóm núi. Cái tình ấy, cái cảnh ấy không làm cho Người vui lên được. Bác tả cảnh để ngụ tình – một bút pháp cổ điển được Người sử dụng thành công trong “Chiều tối”. Đồng thời qua hai câu thơ này, người đọc cảm nhận được vẻ đẹp tâm hồn của Hồ Chí Minh, đó là tình yêu thiên nhiên sâu sắc của Người. Người nâng niu, trân trọng từng giọt sự sống chân chính ở đời. Nhìn cánh chim bay, Người cảm nhận được sự mệt mỏi của nó thì quả là một tâm hồn thơ tinh tế, nhạy cảm. Mặt khác, nếu đặt hai câu thơ vào hoàn cảnh ra đời của nó, ta mới thấy được bản lĩnh phi thường của người tù chiến sĩ Hồ Chí Minh. Nếu không tự do hoàn toàn về mặt tinh thần thì không thể nào có được những câu thơ viết về thiên nhiên hay như vậy.
Mệt mỏi, đau đớn và chán chường, vậy mà cảm hứng thơ vẫn đến với Bác. Không có chân dung người tù khổ ải mà chỉ hiện ra cái dáng vẻ, phong độ của bậc tao nhân mặc khách đang ung dung, thư thái thưởng ngoạn cảnh chiều hôm nơi núi rừng. Những câu thơ mềm mại nhưng thật ra lại có “chất thép” bên trong. Nếu không có ý chí và nghị lực phi thường vượt lên trên hoàn cảnh, có bản lĩnh kiên cường và sự tự chủ, tự do hoàn toàn về tinh thần ở Bác thì cũng khó có được những vần thơ cảm nhận thiên nhiên sâu sắc, tinh tế như thế trong hoàn cảnh tù đầy khắc nghiệt

 
 

Bài làm 3

“Chiều tối” là một trong những thi phẩm đặc sắc nhất được rút ra từ tập Nhật kí trong tù của Hồ Chí Minh. Bài thơ đã phác họa đầy sống động bức tranh thiên nhiên rộng lớn, vắng lặng khi chiều tà, đồng thời qua đó bộc lộ được tinh thần lạc quan, tấm lòng giàu yêu thương, niềm tin mãnh liệt vào sự sống của Bác – người chiến sĩ abcxyz hết lòng vì dân, vì nước.

Chiều tối được sáng tác trong hoàn cảnh vô cùng đặc biệt khi Bác đang trên đường chuyển lao từ Tĩnh Tây đến Thiên Bảo. Bài thơ thể hiện cái gian lao, vất vả của đường đi đồng thời cũng thể hiện được tâm hồn đầy tinh tế, tinh thần lạc quan cùng phong thái ung dung, kiên cường của người chiến sĩ các mạng.

Mở đầu bài thơ, bức tranh thiên nhiên lúc chiều tà được Hồ Chí Minh điểm xuyết bằng hình ảnh của cánh chim mỏi mệt và chòm mây cô đơn:

“Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ

Cô vân mạn mạn độ thiên không”

Dịch:

Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ

 

Chìm mây trôi nhẹ giữa tầng không

Hình ảnh cánh chim và đám mây là những hình ảnh đặc trưng của thi ca cổ điển thường được sử dụng để diễn tả sự cô đơn, lạc lõng giữa cuộc đời. Cánh chim mỏi mệt cũng từng xuất hiện trong thơ Bà Huyện Thanh Quan để diễn tả nỗi cô đơn của người lữ khách “Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi”.  Hai câu thơ của Bác cũng có sự gặp gỡ thú vị với nhà thơ Lí Bạch của Trung Quốc khi đều xuất hiện hai hình ảnh đám mây, cánh chim:

 “Chúng điểu cao phi tận

Cô vận độc khứ nhàn”

Dịch:

Bầy chim cao nhất loạt bay cao

Lưng trời thơ thẩn đám mây một mình

Tuy có sự tương đồng về hình ảnh thơ nhưng cảm xúc giữa hai bài thơ lại có sự khác biệt rõ nét, nếu như cánh chim trong thơ Lí Bạch “cao phi tận” là cánh chim ánh đời, thoát tục mà bay vào cõi hư vô thì cánh chim mỏi mệt trong thơ Bác lại bay về rừng, hướng về cuộc sống ở cõi thường. Đám mây cô đơn trong thơ Bác cũng không nhẹ nhàng, thoát tục như trong thơ Lí Bạch mà chất chồng những suy tư, đó là nỗi lo lắng, suy tư của một người chiến sĩ luôn hết lòng vì dân, vì nước, vì vận mệnh của cả dân tộc.

Bác đã sử dụng bút pháp tả cảnh ngụ tình để phác họa lên bức tranh thiên nhiên đầy độc đáo, mang phong vị riêng thể hiện tâm hồn tinh tế, nhạy cảm của Người, đồng thời qua bức tranh ấy độc giả có thể cảm nhận được bức chân dung tâm hồn của Người. Bác trân trọng từng dấu hiệu của sự sống, nếu đặt hai câu thơ trong tương quan với hoàn cảnh sáng tác ta có thể cảm nhận được bản lĩnh phi thường của người chiến sĩ, xiềng xích chỉ có thể giam giữ về tự do nhưng tinh thần của người hoàn toàn được giải phóng bởi nếu không tự do về tinh thần thì khó có thể phát hiện ra những cảnh sắc thiên nhiên độc đáo đến vậy.

Có thể thấy hình ảnh cánh chim mỏi mệt và chòm mây cô đơn có sự hô ứng, kết nối đặc biệt với trạng thái, tình cảm của người tù trên đường chuyển lao, đó là bước chân xiềng xích đầy mỏi mệt trên hành trình dài, là tâm trạng cô đơn, tâm tư chất chồng của người chiến sĩ yêu nước.

Sử dụng bút phạm cổ điển, Hồ Chí Minh đã vẽ lên bức tranh thiên nhiên đầy sống động, đó là những cảm nhận đầy tinh tế, sâu sắc về thiên nhiên, về sự sống của một con người yêu đời tha thiết.

 

 

Xem thêm