13 Phân tích Bắt Sấu rừng U Minh Hạ mới nhất

BÀI LÀM 1:

Sơn Nam tên khai sinh là Phạm Minh Tài (bút danh khác : Phạm Anh Tài), quê ở Rạch Giá (Kiên Giang), tham gia cách mạng từ năm 1945, hoạt động văn nghệ trong thừi kì kháng chiến chống thực dân Pháp, tiếp đó làm văn, viết báo ở Sài Gòn. Sơn Nam sinh ra ở miền cực nam của Tổ quốc và cũng là nhà văn đích thực của vùng đất này. Vùng đất đó là đề tài sáng tác và cũng là đối tượng khảo cứu của nhiều công trình khoa học có giá trị của ông

Bắt sấu rừng U Minh Hạ là tác phẩm, rút từ tập truyện ngắn rất tiêu biểu cho tư tướng và nghệ thuật của Sơn Nam : Hương rừng Cà Mau. Tập truyện đưa ta vào một thế giới bao la và kì thú của vùng đất U Minh với những kênh rạch, những rừng tràm, bãi sú, đồng nước mênh mông, quê hương của các loài tôm cá, chim quý, thú rừng, cá sấu, rắn, rùa, ong mật,… Đây quả là nơi rừng vàng biển bạc. Nhưng để có thể khai thác được một thiên nhiên như thế, con người đã phải trả giá rất đắt bằng mồ hôi, nước mắt và máu để đương đầu với thú dữ, rắn rết, muỗi vắt, chướng khí và giặc cướp, chưa kể sự áp bức của thực dân, địa chủ,… Nổi bật lên trên bối cảnh thiên nhiên giàu có, hùng vĩ và dữ dội ấy là những người dân lao động sức vóc, gân guốc, sống mãnh liệt, đầy tài ba, trí dũng – những con người rất đặc trưng cho tính cách Nam Bộ : hào phóng, bộc trực, trọng nghĩa khinh tài, hồn nhiên, cởi mở, tuy có phần cả tin, sùng đạo, mê tín dị đoan nữa… Tác phẩm được viết với một tấm lòng yêu nước thiết tha, một tâm hồn nhân hậu và một thứ ngôn ngữ đậm đà màu sắc địa phương Nam Bộ, ẩn giấu bên trong một nụ cười thông minh, hóm hỉnh mà rất đỗi dịu hiền. 2. Sức hấp dẫn của Bắt sấu rừng U Minh Hạ trước hết là ở lối trần thuật đưa người đọc, cùng với nhân vật truyộn, đi từ bất ngờ này đến- bất ngờ khác, hết chuyện lạ nọ đến chuyên lạ kia. Điểu kì lạ đầu tiên là, cứ tưởng sấu chỉ ở dưới sông, hoá ra “sấu ở giữa rừng nhiều như trái mù u chín rụng !” – có người lên rừng ăn ong chạy về loan báo như thế. Dân làng Khánh Lâm kéo nhau lên xem : “Cái ao lớn ước một công đất, bên bờ, dưới nước, toàn là lau sậy, dây cóc kèn. Sấu nổi lên chen vào bức tranh màu xanh ấy những vệt đen chi chít : con thì nằm dài như chiếc xuồng lường, con thì dùng hai chân trước mà vạch sậy, ngóng mỏ xéo lên trời như họng súng thần công đại bác”,… Điều kì lạ thứ hai là nhân vật Năm Hên xuất hiện, vừa bơi xuồng vừa hát – tiếng hát thật là ảo não, rung rợn:           Hồn ở đâu đây ?           Hồn ơi ! Hồn hỡi !           Xa cây xa cối,           Xa cội, xa nhành            Đầu bãi cuối gành           Hùm tha sấu bắt… Ông ta là thợ câu sấu ? Không, ông là “thợ bắt sấu”, “bắt bằng… hai tay không”, quả là một nhân vật “phi phàm, thế gian hi hữu”. Điều kì lạ thứ ba là, ngày hôm sau, chỉ quá giờ Ngọ, Tư Hoạch, theo ông Năm Hên đi bắt sấu, đã trở về : Bà con ơi ! Ra coi sấu… Bốn mươi lăm con còn sống nhăn”. Dưới sông, Tư Hoạch ngồi trên xuồng bơi nhè nhẹ như đi dạo mát, kéo theo sau một bầy sấu, con này buộc nối đuôi con kia “đen ngòm như khúc cây khô dài”, như một “chiếc bè quái dị”. “Thực tế hay là chiêm bao ? Người thì đứng há miệng sửng sốt rồi toan chạy vào nhà trốn. Người khác khấn vái lâm râm, e nay mai xóm này bị sự trừng phạt của quỷ thần”. Điều kì lạ thứ tư là, theo lời kể của Tư Hoạch, ông Năm Hên có một mẹo bắt sấu rất nhẹ nhàng và tài tình : “Thực là bực thánh của xứ này rồi ! Mưu kế như vậy thực quá cao cường”,.., 3. Sức hấp dẫn thứ hai của tác phám là ở nhân vật ông Năm Hên. Một nhân vật được xem là “kì tài” mà rất giản dị, khiêm tốn. Con người của hành động, ít nói, không ba hoa khoác lác. Ông tự giới thiệu : “Tôi đây không tài giỏi gì hết, chẳng qua là biết mưu mẹo chút ít”. Nhưng con người ấy, bộ dạng ông có một vẻ gì rất bí ẩn : “áo rách vai, tóc rối nùi, mắt đỏ ngầu, bó nhang cháy đỏ quơ qua quơ lại trên tay”, trông “ghê như tướng thầy pháp”. Té ra con người làm thì nhiều, nói thì ít này cũng có nhiều nỗi niềm sâu kín : một vết thương lòng đau đớn và một mối hận thù không lúc nào nguôi đối với loài thuỷ quái : “cha mẹ tôi sanh ra chỉ có hai anh em tụi tôi. Anh tôi xuống miệt Gò Quao phá rừng lập rẫy hồi mười hai năm về trước. Sau được tin cho hay : ánh bị sấu ở ngã ba Đình bắt mất. Tôi thề quyết trả thù cho anh”. Như thế là con người này rất giàu tình nghĩa. Mà không phải chỉ giới hạn trong tình cảm anh em ruột thịt. Tấm lòng của ông còn mở rộng ra tới tất cả những người dân lao dộng, chỉ vì lặn lội kiếm ăn mà bị “hùm tha, sấu bắt”. Bài hát của ông đã nói rõ lòng ông như vậy :           Hồn ở đâu đây ?           Hồn ơi ! Hồn hỡi !           Xa cây xa cối,           Xa cội xa nhành,           Đầu bãi cuối gành,           Hùm tha, sâu bắt,           Bởi vì thất ngặt,           Manh áo chén cơm,            U Minh đỏ ngòm,           Rừng tràm xanh biếc !           Ta thương ta tiếc,           Lập đàn giải oan… Đó chính là lí do ông tìm đến vùng đất Rạch Giá, Cà Mau này. Nghe tin đây là nơi tập trung nhiều sấu với những địa danh ghê gớm : Đầu Sấu, Lưng Sấu, Bàu Sấu, ông “Cực lòng biết bao nhiêu”, và “chẳng nệ đường xa để tới xứ Khánh Lâm này”. Đày là con người “trọnu nghía khinh tài”, mang truyền thốne “Kiến nghĩa bất vi vô dõna dã – Lâm nguy bất cứu mạc anh hùng” của người dân Nam Bộ. Ông “nào đã mớ miệng xin tiền bạc cơm gạo gì của xóm này”. Lòng ông là thế : không bày đặt ra “bùa phép để kiếm tiền. Nghề bát sấu có thể làm giàu được, ngạt tôi không màng thứ phú quới đó”. Một ý thức giúp đời, cứu đời hết sức vô tư như muôn học theo nghĩa khí cùa Lục Vân Tiên, Hớn Minh, Vương Tử Trực ngày xưa… 4. Bắt sấu rừng U Minh Uạ còn tạo được sức hấp dẫn nhờ những chi tiết rất gợi không khí. Có chi tiết gợi cám giác ghê sợ. Chẳng hạn, hình ảnh con sấu già trong ao sấu. Nó là con “sấu chúa” sống lâu đời, “có đốm đỏ ngay giữa tam tinh”. Nó trợn mắt nhìn lũ người rồi bò thối lui vào giữa lòng ao, “toan dụ địch thú vào hang của nó nơi nước sâu”. Hình ảnh bầy sấu, bốn mươi lăm con, “đen ngòm như khúc cây khô dài” bơi theo xuồng Tư Hoạch cũna là một hình ảnh shê sợ. Có người “toàn chạy vào nhà trốn”, có người lâm râm khấn vái tưởng như có quỷ thán hiện lên trừng phạt,… đều là những chi tiết gợi không khí kinh hoàng trước một hiện tượng ghê gớm “một đời người mới có một lần”. Đặc biệt là qua tiếng hát của ông Năm Hên, “Tiếng như khóc lóc, nài nỉ. Tiếng như phẫn nộ, bi ai”. Ông vừa hát vừa cầm bó nhang cháy đỏ quơ qua quơ lại, trông thật ghê rợn. Hát mà như tiếng gọi hồn, hát mà như lời nài ni, giải oan cho những kiếp người… “có tiếng khóc sụt sùi đâu đây. Đó là vài cụ già, bà lão chạnh nhớ đến tổ tiên, bạn bè của mình, biết đâu trên bước đường sanh nhai giữa chốn nước đó rừng xanh, có thân nhân của họ đã bỏ thân vì đàn sấu này”. Tất cả đều là những chi tiết hết sức gợi cảm, tạo nên không khí một cõi tâm linh bao trùm lên vùng đất u Minh Hạ, trong đó, tưởng như có tiếng khóc than của linh hồn bao kiếp người phải vùi thân nơi đầm lầy, sông nước này… Đúng vậy, Sơn Nam đích thực là nhà văn của cảnh và người miền cực nam Tổ quốc. Mỗi hình ảnh, mỗi chi tiết, mỗi câu văn của ông đều gợi lên linh hồn của nơi quê hương sông nước đã sinh ra ông. Và tâm hổn rất mực thuỷ chung ân nghĩa của ông, ông cũng gửi vào những dòng chữ đó.

BÀI LÀM 2

 

Miền Nam không chỉ xuất hiện trong truyện những đứa con tỏng gia đình của Nguyễn Thi với cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước mà còn xuất hiện lại một lần nữa trong truyện bắt sấu rừng U Minh hạ của Sơn Nam. Nhà văn Sơn Nam cũng đã một lần nữ ca ngợi vẻ đẹp của con người Nam Bộ khi phải đối diện với những khó khăn của thiên nhiên nơi đây. Thiên nhiên càng hoang sơ, nguy hiểm biết bao nhiêu thì con người hiện lên càng đẹp biết bao nhiêu. Vẻ đẹp ấy được thể hiện rất rõ qua nhan vật ông Năm Hên.

Bắt sấu rừng U Minh Hạ là một truyện ngắn in trong tập truyện Hương rừng Cà Mau (NXB Phù Sa, Sái Gòn, 1962). Toàn tập gồm 18 truyện, thể hiện sinh động cảnh quan, đời sống, truyền thống lịch sử và phẩm chất tính cách con người ở mảnh đất cực nam của chúng ta. Tác giả giúp người đọc hiểu và yêu Hòn Cổ Tron, sông Gành Hào, đàn ong mật, những đêm hát bội giữa rừng, cuộc đua ghe ngo, v. v… nổi bật trên bức tranh dân dã quê hương đó là những người nông dân đôn hậu, chất phác, chân thật, dũng cảm ; những người đổ mồ hôi và đổ máu để khai phá và giữ gìn từng tấc đất cho gia đình và cho Tổ Quốc.

Câu chuyện nổi bật lên hình ảnh thiên nhiên cực nam vô cùng nguy hiểm. Câu truyện như tái hiện lại toàn cảnh thiên nhiên vùng U Minh hạ cũng như cảnh sinh hoạt, mưu sinh của người dân nơi đây. Thiên nhiên hiểm trở đó chính là thiên nhiên rừng xanh nước độc ấy – rùng U Minh, đặc biệt trong chốn rừng thiêng ấy còn có cả đàn sấu. Những con cá sấu nguy hiểm đã giết hại biết abo nhiêu người dân nơi đây. Họ phải vào rừng để kiếm ăn kiếm kế sinh nhai nhưng ở đó cũng có thể địa ngục của họ nếu như họ gặp đàn sấu ấy. Chúng to khỏe và nguy hiểm khiến ai là dân trong vùng ấy đều sợ, họ chỉ biết khóc lóc thương tiếc những người thân xấu số của mình chứ chưa ai dám động đến chúng “nhưng có tiếng khóc sụt sùi đâu đây. Ðó là vài cụ già, bà lão chạnh nhớ đến tổ tiên, đến bạn bè của mình, biết đâu trên bước đường sanh nhai giữa chốn nước đỏ rừng xanh, có thân nhân của họ đã bỏ thân vì đàn sấu này. Bó nhang đang cháy kia có giải oan được cái chết của họ không chớ? ”. đã vậy ở dòng sông ấy, rừng U Minh ấy còn có rất nhiều loại động thực vật phong phú và đa dạng.

Nói đến đàn cá sấu chúng không thích những nơi sóng gió mà chúng lại leo lên hẳn ngọn nguồn để sinh sống đặc biệt ở những đoạn hẹp của sông U Minh, những nơi ấy thường là chỗ mưu sinh của người dân Nam Bộ. Thế mà giờ thành nơi sinh sống và địa bàn của chúng chẳng khác nào mang thức ăn đến cho chúng nhưng biết làm sao khi người dân nơi đây sống nhờ rừng U Minh ấy, đã vậy họ nổi tiếng là những người sống trên nước “nơi sông rạch, cá sấu là giống hung hăng nhất. Có điều đáng chú ý là chúng không thích những chốn sông nước chảy, có sóng gió. Chúng lên tận ngọn cùng, tìm nơi yên tịnh, chật hẹp. Vùng U Minh hạ, sấu thường đi ngược sông Ông Ðốc, rạch Cái Tàu vào giữa rừng tràm…”.
Về số lượng của đàn cá xấu tác giả miêu tả thật rõ nét, thật chính xác qua câu “– Sấu ở giữa rừng nhiều như trái mù u chín rụng !”. đây là một phép so sánh vô cùng hay. Tác giả không dùng biện pháp phóng đại nói quá mà như trong tác phẩm thì người dân ở đây khi đứng lên trên cao nhìn xuống ngoài cái ao lớn ước một công đất, bên bờ, dưới nước, toàn là lau sậy, dây cóc kèn ra thì toàn là những lưng con cá sấu hiện lên thành những vệt đen chi chít. Chúng còn ở đó thì người dân miền nam không thể yên ổn làm ăn được. Có thể nói chúng là mối nguy hiểm lớn nhất của người dân nơi đây.
Đàn cá sấu ấy không chỉ đông đảo về số lượng mà chúng còn rất khôn lanh “…con thì nằm dài như chiếc xuồng lường, con thì dùng hai chân trước mà vạch sậy, ngóng mỏ xéo lên trời như họng súng thần công đại bác. Biết có loài người đến quan sát, chúng vẫn điềm nhiên sưởi nắng, bắt cá. Duy có con sấu già trợn mắt hướng về lũ người rồi bò thối lui. Nghi ngờ gì nữa! Con sấu nọ có đốm đỏ ngay giữa tam tinh. Nó là “sấu chúa” sống lâu đời, nhiều phen kịch chiến với loài người. Khi ở trên cạn, sấu khôn nguy hiểm bàng nột con rắn hổ. Sấu chúa khôn lắm, nó toàn dụ địch thủ vào hang của no ù nơi nước sâu. ” Tác giả miêu tả thật sống động những hoạt động của đàn cá sấu khôn lanh và đồng thời qua đó chúng ta thấy nếu không xử lý được chúng thì còn nhiều người dân nữa biến thành thức ăn của chúng.
Trước những khó khăn ấy nhưng con người nơi đây vẫn đến đây để lập nghiệp và họ cứ đinh ninh rằng đàn cá sấu kia đã giảm bớt lượng đi phàn nào. Có mười thì chắc chán là bảy phẩn chết còn ba phần. thế nhưng chúng vẫn đông đảo lắm. tuy vậy họ không lùi bước họ tìm cách để đánh bại con vật ghê gớm kia. “Trong số những người khi nãy, có kẻ cẩn thận mang theo mác thông, lao, ná lẫy, nhưng họ dư hiểu rằng mớ khí giới ấy chỉ có hiệu lực đối với cọp, heo rừng, đằng này, sấu lại là loài ở nước, ở bùn lầy. Chống xuồng vào thì quá cạn còn đi bộ xuống thì lún ngập gối. ” thế rồi giữa những khó khăn ấy xuất hiện ông Năm Hên một ngươi gan dạ và có một chiến thuật để đánh bại đàn cá xấu ấy. Và đặc biệt chính kế hoạch và tài trí của ông đã tiêu diệt lũ cá sấu ấy chả lại một U Minh hiền lành cho mọi người dân đến đây lập nghiệp. Sự khôn khéo cũng như sức khỏe kiên cường của ông biểu tượng cho người dân sông nước Miền Nam.
Cảnh bắt cá xấu hiện lên thật đầy nguy hiểm cũng thật hấp dẫn người đọc bởi sự khôn khéo và tài tình của ông Năm Hên. Đi theo ông còn có Tư Hoạch. Ban đầu mọi người không tin ông Năm có thể  giết bắt đàn cá xâu nhưng sự thật thì ông có thể. “tới ao sấu, ông Năm hên đi vòng quanh dòn địa thế rồi ngồi xuống uống một chung rượu. Kế đó ổng với tôi lấy xuổng đào một đường nhỏ, ngày một cạn, từ bờ ao lên rừng chừng mười thước. Xong xuôi, ổng biểu tôi bứt cho ổng một nắm dây cóc kèn. Phần ổng thì lo đốn một đống cây mốp tươi, chặt ra khúc chừng ba tấc. lửa châm vô sậy đế, cóc kèn xung quanh, bắt cháy xuống đám sậy để trong ao. Chập sau, bị khói cay mắt, ngộp thở, phần thì nước sôi nóng, sấu bò lên rừng theo con đường đào sẵn hồi nãy. Tức thời, ông Năm Hên chạy lại. Sấu há miệng hung hăng đòi táp ổng. Ổng đút vô miệng sấu một khúc mốp. Sấu táp lại, dính chặt hai hàm răng : như mình ngậm một cục mạch nha quá lớn, muốn há miệng cho rộng để nhả ra cũng không được. Sấu bị khúc mốp khóa miệng, còn cái đuôi đập qua đập lại. Ông Năm xách cây mác nhắm ngay sau lưng sấu mà xắn nhè nhẹ để cắt gân đuôi. Ðuôi sấu bị liệt. Thế là mình yên trí, lấy dây cóc kèn trói thúc ké hai chân sau của nó lại, chừa hai chân trước để nó bơi tiếp với mình” tất cả những chi tiết ấy đã chứng minh sức khỏe cũng như tài trí của ông Năm Hên. Chuyện bắt cá sấu kết thúc tốt đẹp với hình ảnh “Tiếp theo lái xuồng là một bầy sấu, con này buộc nối đuôi con kia, đen ngòn như khúc cây khô dài. Mỗi con sấu, hai chân sau thúc ké trên lưng, hai chân trước tự do, quạt nước cầm chừng như tiếp sức với Tư hoạch để đẩy chiếc bè quái dị kia đi nhẹ nhàng…”
Ông Năm Hên trở vè trong sự vui mừng khôn xiết của những người dân nơi đây họ cảm ơn ông. Và trước khi ông đi, ông không quên thắp một nén nhang cho những người đã khuất. Điều đó cho thấy ông Năm Hên là một người rất trọng tình nghĩa.

Qua đây ta càng thêm yêu những con người miền nam của tổ quốc. Đặc biệt ta cũng thấy được rừng U Minh lúc hoang so ban đầu nguy hiểm như thế nào, thiên nhiên không chỉ mang lại nguồn thức ăn, sự sinh nhai mà còn có cả những loại động vật nguy hiểm như đàn sấu này nữa. Tuy nhiên những con người ấy vẫn kiên cường vượt qua khó khăn và chiến thắng thiên nhiên hoang sơ một cách oanh liệt. Và nhân vật ông Năm Hên đại diện cho vẻ đẹp của những người dân Nam Bộ ấy.

BÀI LÀM 3:

Tập truyện Hương rừng Cà Mau của Sơn Nam in tại Sài Gòn năm 1967, gồm mười tám truyện ngắn và một bài thơ viết thay lời tựa. Tập truyện viết về thiên nhiên và con người ở miền cực nam Tổ quốc, một thế giới hoang vu thuở khai thiên lập địa, dân cư thưa thớt. Những con người như sinh ra từ bùn lầy, gội mưa tắm nắng, vật lộn với thiên nhiên để sinh sống, thiên nhiên thì giàu có nhưng vô vàn cạm bẫy: trên rừng hùm beo rắn độc, dưới sông thì đầy cá sấu; vào mùa nước nổi, ruộng đồng như biển cả. Tác phẩm tập trung khắc họa người nông dân thật thà chất phác, trí dũng có thừa, dù nghèo khổ nhưng vẫn yêu đời và đặc biệt là tinh thần nghĩa hiệp gắn với lòng yêu nước.
Cách thức trần thuật ngắn gọn, cách tạo tình huống li kì hấp dẫn, tính cách nhân vật được khắc họa đậm nét, tiếng địa phương được sử dụng vừa phải nên ngôn ngữ trong sáng giản dị… là điểm đặc sắc về nghệ thuật của truyện. Bắt sấu rừng U Minh Hạ là một trong mười tám truyện ngắn của tập truyện này.
Truyện Bắt sấu rừng U Minh Hạ kể về sự kiện bắt đàn cá sấu hung dữ đầy kinh nghiệm và mưu trí của nhân vật Năm Hên.
Truyện mở ra một cảnh tượng hoang sơ khủng khiếp của thiên nhiên, một thế giới kì bí, lạ lùng.
Mùa khô nước rút, giữa rừng tràm – vương quốc của loài sấu, chúng dồn lại trong ao chen chúc những vệt đen chi chít, có con nằm dài như chiếc xuồng, có con ngóng mỏ lên như họng súng thần công, có con sấu già – đốm đỏ ngay giữa tam tinh, nó là con sấu chúa khôn lắm – trợn mắt hướng về lũ người rồi bò thui lui về giữa lòng ao để thủ thế…Một cảnh tượng thật khủng khiếp, vẻ dữ dằn của thiên nhiên đã đe dọa cuộc sống bình yên. Người ăn ong trong rừng mang tin dữ về cho dân làng Khánh Lâm khiến mọi người ai nấy đều dáo dác. Một tai họa rình rập nhưng không ai dám ra tay tiêu trừ đàn sấu nguy hiểm.

Dân làng kéo nhau vào rừng chứng kiến đàn sấu tận mắt, quá kinh hãi họ im lặng rút lui.
Không khí căng thẳng bao trùm ngôi làng. Cách tạo tình huống đầy kịch tính, dân làng đang chờ vị cứu tinh.
– Bỗng đột ngột xuất hiện một nhân vật kì lạ. Người đàn ông vừa bơi thuyền ba lá đến bộ phận làng Khánh Lâm vừa hát những câu hát ảo não rùng rợn.

Hồn ở đâu đây
Hồn ơi! Hồn hỡi
Xa cây xa cối
Xa cội xa cành
Đầu bãi cuối gành
Hùm tha bắt sấu…

Tiếng hát gợi đến bao linh hồn oan khổ đã tiên phong mở đường khai phá mảnh đất phương Nam, lần lượt bị vùi xác nơi rừng xanh nước đỏ. Tiếng hát gợi nhớ tổ tiên và nỗi âu lo đang bị thiên nhiên đe dọa nên người già làng Khánh Lâm ai nấy đều sụt sùi.
Thì ra đây là vị cứu tinh mà dân làng đang mong đợi.
– Dân làng đón tiếp trọng thị. Câu chuyện bên bàn rượu – Năm Hên tự bạch.
– Nghe tin nơi nào có sấu phá hoại là đến, không cần mời, rất cực lòng khi thấy bà con bị  sấu phá hoại.
– Ông theo nghề bắt sấu là để trả thù cho anh, vì bà con, không bao giờ vì tiền bạc, người khác có thể làm giàu bằng nghề này nhưng ông không màng phú quý.
Con người rất mực tình cảm, nghĩa hiệp, tâm hồn trong sáng vô tư và mục đích sống, hành động giản dị mà cao đẹp. Cách giãi bày tâm sự cho thấy tính cách bộc trực, thẳng thắn và khiêm tốn: Tôi đây không tài giỏi gì hết, chẳng qua là biết mưu mẹo chút ít, theo như người khác thì họ nói đó là bùa phép để kiếm tiền.
– Năm Hên bắt sấu:
Trong khi cả làng bó tay ngồi nhìn đàn sấu to lớn, hung dữ thì ông bảo bắt sấu trên cạn bằng tay không. Ông chỉ cần một người dẫn đường, phụ việc và mang theo một chiếc thuổng. Dân làng rất đỗi ngạc nhiên và hồ nghi. Nửa buổi nhìn vào rừng chỉ thấy cột khói đen bay lên rồi tắt. Dân làng tụ tập hồi hộp căng thẳng chờ đợi và chuẩn bị tiệc ăn mừng.
Kết quả bất ngờ, thật ngoài sức tưởng tượng. Mới xế chiều, Tư Hoạch bơi xuồng về báo tin, kéo theo cả đàn sấu bơi theo. Làm sao mà có được cảnh tượng này?
Cách tổ chức trần thuật, kết cấu chi tiết kiểu che giấu mật mã càng kích thích trí tò mò, làm câu chuyện càng căng thẳng hấp dẫn chờ đợi giải mã.
Khi kịch tính lên đỉnh điểm: mọi người bơi xuồng ra sông, tận mắt chứng kiến hỏi thăm rối rít thì Tư Hoạch mới chậm rãi tường thuật, giải thích. Cách “mở nút” này đã làm nổi bật mưu trí, cái kì tài của Năm Hên và mọi người tôn ông ấy là “bực thánh”. Người dân Cái Tàu, Rạch Gía mang ơn ông suốt đời.
Thấy chiến công mà chưa thấy dũng tướng quay về, cách kết cấu này càng kích thích trí tò mò, chờ đợi. Bỗng Năm Hên xuất hiện nhưng ở một bộ dạng khác.
– Năm Hên tay huơ huơ nhang nghi ngút khói, tóc rối nùi, mắt đỏ ngầu vừa đi vừa hát càng gợi không khí kì quái rùng rợn.
Năm Hên ở lại cúng bái là muốn giải oan cho linh hồn tổ tiên theo tục mê tín của người Việt, người mà bị thú dữ ăn thịt thì oan hồn vẫn còn theo con thú đó nên khi nhìn thấy đàn sấu bị kéo về, có người đã khấn vái lâm râm vì mưu sinh mà bỏ mạng nơi này. Điều này cho thấy sự đồng cảm của Năm Hên đối với những người bất hạnh bị sấu ăn, là mối tình sâu nặng với tổ tiên.
Sự xuất hiện có phần bí ẩn rồi khi kết thúc truyện nhân vật lại xuất hiện hơi kì quái trong khúc hát gọi hồn lặp lại nên tạo được không khí chung của truyện: thế giới thiên nhiên hoang sơ áp đảo con người.
Năm Hên là nhân vật có tính cách Nam Bộ rõ nét: sống hồn nhiên đơn giản, bộc trực, khẳng khái, giàu tình cảm, nghĩa hiệp và mưu trí.
Nghệ thuật tạo tình huống và lối kết cấu dẫn dắt truyện hấp dẫn, cốt truyện đơn giản cô đọng. Qua câu chuyện bắt sấu rừng U Minh Hạ của Năm Hên, tác giả đã miêu tả thiên nhiên vùng miệt vườn cực Nam hoang sơ, đầy bí hiểm đe dọa, từ đó làm nổi bật tài trí của người lao động trong việc chinh phục thiên nhiên để bảo vệ và phát triển cuộc sống.

BÀI LÀM 4:

Sơn Nam là nhà văn Nam Bộ giàu bản sắc, có một phong cách nghệ thuật độc đáo, dung dị, hồn nhiên. Đọc truyện của ông, ta tưởng như đang ngồi nghe một lão nông miệt vườn, một tay ăn ong rừng kể chuyện. Có nhà phê bình đã nói, đọc truyện “Hương rừng Cà Mau” như được đi “thăm thú vùng đất Mũi kì thú mênh mông”. Ta như được vui vầy sống giữa một thiên thiên hoang dã. Rừng tràm bát ngát, nhiều ong mật, cá sấu, rắn rùa, đủ các loài chim quý. Kênh rạch chằng chịt, lắm nước bạc, nhiều phù sa, đầy tôm cá. Một vùng đất giàu có với những con người dũng cảm, trọng nghĩa khinh tài, ngang tàng, bộc trực,… rất đáng yêu. Tất cả được Sơn Nam tạo nên một không gian nghệ thuật với bao câu chuyện kì thú hấp dẫn, đâm đà màu sắc Nam Bộ, cuốn hút chúng ta. Thấm đượm những trang văn của Sơn Nam là một tấm lòng yêu nước thiết tha, một tình yêu thương chan hòa với thiên nhiên và con người của đất rừng phương Nam Tổ quốc giàu đẹp.

Truyện “Bắt sấu rừng U Minh Hạ” là một trong số 18 truyện rút trong tác phẩm “Hương rừng Cà Mau” xuất bản năm 1967. Tác giả kể lại chuyện ông Năm Hên bắt sấu ở ngọn rạch Cái Tàu tại địa phận làng Khánh Lâm, qua đó ca ngợi những phẩm chất như chất phác, dũng cảm, tài tử và trọng nghĩa khinh tài… của người nông dân Nam Bộ…

1. Phần đầu truyện, Sơn Nam nói về loài sấu. Nó là giống “hung hăng nhất” ở nơi sông rạch. Giống sấu chỉ thích nơi yên tĩnh, chật hẹp của ngọn cùng, không thích chốn sông sâu, nước chảy, có sóng gió. Sấu thường đi ngược sông Ông Đốc, rạch Cái Tàu, vào giữa rừng tràm vùng U Minh Hạ. Sấu thích ăn thịt người, nhưng tôm cá là “món ăn chính” của nó. Mùa nắng hạn rừng khô, sấu tìm đến các ao, các lung giữa rừng tràm mà lập “căn cứ”, rồi “sanh con đẻ cháu”.

Câu chuyện càng trở nên hấp dẫn qua tình tiết khi có người lên rừng ăn ong chạy về loan báo: “sấu ở giữa rừng nhiều như trái mù u chín rụng!”. Chất hoang dã của rừng tràm, của rạch Cái Tàu, vẻ rùng rợn của câu chuyện được gợi ra bằng một câu loan báo nhiều ngạc nhiên và hoảng sợ vì sấu rất hung dữ lại “thích ăn thịt người!”.

Sơn Nam miêu tả sấu, đàn sấu bằng những chi tiết rất gợi, những hình ảnh đầy màu sắc. Giữa một cái ao lớn ước một công đất toàn lau sậy, dây cóc kèn là đàn sấu nổi lên “những vệt đen chi chít” giữa “bức tranh màu xanh” của rừng tràm, của cây lá. Đàn sấu được đặc tả bằng những so sánh gợi lên cảm giác rùng rợn như khi ta phải đối diện với loài vật hoang dã rất hung dữ và thích ăn thịt người. Có những con sấu to lớn “nằm dài như chiếc xuồng lường” (thuyền độc mộc). Lại có những con sấu rất cảnh giác, hung hăng “dùng hai chân trước mà vạch sậy, ngóng mỏ xéo lên trời như họng súng thần công đại bác”. Con sấu già, sấu chúa “trợn mắt” nhìn lũ người, phản ứng tinh khôn “bò thối lui vào giữa lòng ao, để thủ thế”. Sấu chúa có đốm đỏ ngay giữa tam tinh, sống lâu đời, khôn lắm, nó đã nhiều phen “kịch chiến” với loài người, nó toan dụ địch thủ vào hang của nó nơi nước sâu. Có thể nói bức tranh sấu được Sơn Nam vẽ bằng một gam màu đen nổi bật trên màu xanh của rừng với ba nét vẽ về ba con sấu: sấu nằm, sấu bò, sấu trợn mắt. So sánh nào cũng độc đáo, giàu tưởng tượng. Một thiên nhiên hoang dã, rùng rợn, kì thú. Sơn Nam đã mở rộng tầm nhìn, đem đến cho ta những hiểu biết kì lạ, thú vị về thiên nhiên vùng đất mũi bao la chứa đựng bao bí mật.

2. Ông Năm Hên là nhân vật trung tâm của truyện “Bắt sấu rừng U Minh Hạ”. Nhân vật xuất hiện bất ngờ, đúng là con người “có kì tài”. Ông là thợ già chuyên bắt sấu ở Kiên Giang đạo. Ông đến vùng Khánh Lâm, ngọn rạch Cái Tàu bằng một chiếc xuồng ba lá nhỏ, trong xuồng “vẻn vẹn một lọn nhang trần và một hũ rượu”. Năm Hên xuất hiện bằng một bài hát nghe “ảo não, rung rợn” như một bài cầu hồn. Tiếng hát của ông lão vang lên trên con rạch theo nhịp bơi xuồng tới lui từ sớm tới chiều: “Hồn ở đâu đây? – Hồn ơi? Hồn hỡi? –  Xa cây xa cối – Xa cội xa nhành – Đầu bãi cuối gành – Hùm tha sấu bắt…”. Bài hát gợi lên màu sắc bi tráng của thiên truyện, góp phần gợi tả tính chất kì bí của nhân vật Năm Hên.

Năm Hen xuất hiện với bao mong đợi của bà con vùng Khánh Lâm. Chẳng có vũ khí, chẳng có đồ nghề… Một đoạn đối thoại rất hay để giới thiệu Năm Hên là thợ bắt sấu chứ không phải tay câu sấu, Và ông ta chỉ “bắt sấu trên khô”, bắt sấu “bằng… hai tay không”. Tuy bà con vùng Khánh Lâm “nửa tin nửa nghi” nhưng ai nấy đều khâm phục người “bắt sấu bắng hai tay không quả là phì phàm, thế gian hi hữu”. Ông Năm Hên chẳng phải là một kẻ khoác lác mà là con người đi bắt sấu vì việc nghĩa, chưa hề “nói láo để lường gạt” hoặc “mở miệng xin tiền bạc cơm gạo gì” của xóm Khánh Lâm này, của bất kì ai. Đó là hình ảnh một con người trọng nghĩa khinh tài sống giữa cộng đồng bà con nông dân Nam Bộ xưa và nay. Ông nói: “Nghề bắt có làm giàu được, ngặt tôi không mang thứ phú quới đó”. Tiếng nói ông Năm Hên, cách ứng xử của ông trong nghề bắt sấu khác nào tâm thế ông Ngư trong “Truyện Lục Vân Tiên” của cụ Đồ Chiểu ở thế kỉ XIX:

Ngư rằng: “Lòng lão chẳng mơ

Dốc lòng nhân nghĩa há chờ trả ơn.

Nước trong rửa ruột sạch trơn

Một cân danh lợi chi sờn lòng đây”.

Con người của Năm Hên được hé lộ dần. Ông mang một nỗi đau, một mối thù đối với loài sấu hung dữ. Mười hai năm về trước, người anh trai của ông đi phá rừng lập rẫy tại Gò Quao, đã bị sấu ở Ngã Ba Đình bắt mất. Ông đi bắt sấu là để thực hiện một lời thề với vong linh người anh, như ông nói: “Tôi thề quyết trả thù cho anh”. Ở đâu có sấu là ông đi tới. Ông “cực lòng” khi nghe tên những con rạch, ngã ba mang tên Đấu Sấu, Lưng Sấu, Bàu Sấu…, đó là những “nơi ghê gớm”, hồi xưa đất còn hoang “sấu lội nhiều…”. Vùng đất dữ đó, nhiều người mới chỉ nghe nói đến đã ghê sợ, rụng rời cả chân tay.

3. Ông Năm Hên đi bắt sấu ở ngọn Cái Tàu chỉ có một mình, có thêm Tư Hoạch dẫn đường vào ao sấu. Quá ngọ thấy một làn khói đen bốc lên ở phía ao sấu U Minh Hạ, ban đầu ngỡ cháy rừng, chập sau khói lụn xuống. Trời vừa xế, Tư Hoạch đã giong 45 con sấu “còn sống nhăn” trở về. Tư Hoạch reo lên: “Diệu kế! Diệu kế!…Một đời người mới có một lần”. Nhìn đàn sấu “con này buộc nối đuôi con kia đen ngòm như khúc cây khô, dài…hai chân thúc ké trên lưng…” quạt nước bơi theo con thuyền Tư Hoạch, bà con cô bác Khánh Lâm vô cùng ngạc nhiên. Người thì “ há miệng sửng sốt rồi toan chạy vào nhà trốn”, người thì “khấn vái lâm râm…”, có người lại bơi xuồng ra giữa sông hỏi han Tư Hoạch “rối rít”

Nhà văn Sơn Nam đã khéo léo “hãm chuyện”, cho bà con xứ Khánh Lâm nhìn thấy đàn sấu bị bắt đem về, rồi mới nghe Tư Hoạch kể lại chuyện ông Năm Hên bắt sấu, để làm cho câu chuyện trở nên hồi hộp, thú vị. Đến ao sấu ông Năm Hên đi vòng quanh dòm địa thế, rồi ngồi xuống uống rượu thật ung dung. Ông chỉ nhờ Tư Hoạch bứt cho một nắm dây cóc kèn để trói sấu. Còn bao nhiêu công việc như đào một đường nhỏ từ ao sấu lên rừng đến chuyện chặt mốp thành từng khúc, từ chuyện đốt sậy để xua đàn sấu đến chuyện đút khúc mốp vào miệng sấu, lấy mác cắt gân đuôi và trói sấu… một mình ông làm tất. Cả bầy sấu 45 con đều bị ông Năm Hên bắt hết không sót một con nào! Đúng như ông nói: “Tôi đây.. chẳng qua là biết mưu mẹo một ít…”. Bà con xứ Khánh Lâm thì trầm trồ, khâm phục: “Thực là bực thánh của xứ này rồi? Mưu kế như vậy thực quá cao cường!…”. Cả xóm muốn “đền ơn ổng một số tiền, nuôi ông cho tới già”… Ông Năm Hên không chỉ mưu trí dùng hỏa công để lùa sấu theo kế “điệu hổ li sơn”, dẫn sấu vào tử lộ, dùng mốp để khóa miệng sấu, mà ông còn rất düng cảm khi đối diện với đàn sấu hung hăng đòi táp. Ông đã bình tĩnh đút từng khúc mốp vào miệng lũ sấu dữ hung hăng.

Nhà văn để ông Năm Hên “cúng đất đai vương trạch” rồi đi bộ về sau là một tình tiết đặc sắc, tung và hứng rất chặt chẽ. Lần thứ hai, tiếng hát cầu hổn của ông Năm Hên lại cất lên nghe ảo não, rùng rợn:

Hồn ở đâu đây?

Hồn ơi!Hồn hỡi!…

Cùng với tiếng hát cầu hồn, giải oan, là hình ảnh ông Năm Hên “áo rách vai, tóc rối nùi, mắt đỏ ngầu, bó nhang cháy đỏ quơ qua quơ lại trên tay“… gợi lên không khí thiêng liêng, dân dã, kì bí, cổ kính. Người đọc cảm thấy những oan hồn bị “hàm tha, sấu bắt” đang kéo về bến sông nhìn đàn sấu bị ông Năm Hên bắt và khóc sụt sùi. Hình như có biết bao oan hồn đang chập chờn trên sông nước, đang chạy theo chiếc xuồng ba lá của ông Năm Hên.

Truyện ” Bắt sấu rừng U Minh Hạ” có dáng dấp riêng, khó lẫn. Chi tiết rất gợi không khí hoang dã, ngôn ngữ đậm đà màu sắc Nam Bộ, cách dựng truyện li kì. Nếu thiếu đi bài hát cầu hồn, câu chuyện sẽ kém phần thiêng liêng, cổ kính và kì bí. Hình ảnh ông Năm Hên, một thợ già bắt sấu dũng cảm, mưu trí, trọng nghĩa khinh tài, chất phác… cho ta nhiều ấn tượng. Ông là hình ảnh người nông dân Nam Bộ đi bắt sấu để chinh phục thiên nhiên, vì hạnh phúc con người và quê hương. “Bắt sấu rừng u Mình Hạ” như một đoản thiên phiêu lưu kí sáng giá.

Xem thêm